Wednesday, April 27, 2016

Thời điểm nào nên bắt đầu cho trẻ ăn dặm?

Thời điểm nên cho bé ăn ăn dặm và tác hại của việc ăn dặm sớm. Khi bé phát triển, nhu cầu dinh dưỡng của bé cũng thay đổi. Sẽ đến giai đoạn sữa mẹ không đủ thỏa mãn bé. Giai đoạn này thường đến khi bé khoảng từ 4 đến 6 tháng tuổi. Đây chính là thời điểm nhiều em bé sẵn sàng cho việc ăn dặm. Song cũng tùy từng thể trạng và sự phát triển của mỗi bé mà có  định hướng cho ăn dặm sớm hay muộn. Theo khuyến cáo thì nên cho bé ăn dặm sau 6 tháng nhưng khi bà mẹ để ý các dấu hiệu “muốn” ăn dặm của con thì có thể linh động thực hiện chế độ ăn dặm cho bé con. Với một số trường hợp nếu cho bé ăn dặm quá sớm sẽ gây ra những tác hại không mong đợi.

Khi bé phát triển thì nhu cầu dinh dưỡng cũng tăng cao. Sữa mẹ không còn là nguồn cung cấp duy nhất cho bé. Bé cần ăn dặm để bổ sung chất dinh dưỡng cho sự phát triển cả thể chất lẫn tinh thần.
Đối với các bà mẹ trẻ không có kinh nghiệm thực tế thì luôn lo lắng và không biết mấy tháng nên cho trẻ ăn dặm là tốt nhất. Đặc biệt là các mẹ ít sữa cho con bú.
Theo các bác sĩ khoa Nhi thì trẻ em từ 4-6 tháng tuổi đã có thể tập ăn dặm. Lúc này hệ tiêu hóa của bé đã phát triển hoàn thiện hơn và có tiết ra một loại enzyme có tên amylase có chức năng tiêu hóa tinh bột.
Tuy nhiên, trẻ được 6 tháng tuổi mới thật sự là câu trả lời chính xác nhất cho câu hỏi “Mấy tháng nên cho trẻ ăn dặm?”. Vì hệ tiêu hóa của trẻ dưới 6 tháng tuổi vẫn chưa có khả năng hấp thụ trọn vẹn protein từ thịt, cá, trứng, sữa… Trẻ dễ mắc các bệnh về đường ruột.
Tuy nhiên, tùy theo cơ địa của mỗi bé mà câu trả lời cho thắc mắc “Mấy tháng nên cho trẻ ăn dặm là tốt nhất?” sẽ khác nhau. Độ tuổi cho trẻ ăn dặm nằm trong khoảng từ 4-6 tháng.
Dấu hiệu cho biết trẻ đã tới tuổi ăn dặm
– Trẻ đòi bú nhiều hơn bình thường mặc dù mới bú cách đó không lâu.
– Trẻ thường khóc đêm và đói bú.
– Trẻ mút tay.
– Bé nhìn người lớn ăn.
– Trẻ hứng thú khi thấy bố mẹ mớm thức ăn cho bé.
Vậy là các mẹ đã có thể tự tin hơn khi xác định được mấy tháng nên cho trẻ ăn dặm là tốt nhất rồi nhé! Hãy quan sát trẻ và tập cho bé ăn dặm vào thời điểm vàng nhé!

theo phunuso.vn -

3 cách ăn dặm cho trẻ phổ biến nhất hiện nay

Cùng so sánh ưu/nhược điểm của 3 phương pháp ăn dặm hiện được nhiều mẹ Việt áp dụng nhé!

Là mẹ, ai cũng muốn làm những điều tốt nhất cho con mình. Lựa chọn phương pháp ăn dặm này hay phương pháp ăn dặm khác, Tây hay Ta, Nhật hay Việt, truyền thống hay hiện đại… đều không phải do mẹ lười, mẹ chăm, mẹ thiếu hiểu biết hay mẹ hiểu biết. Mỗi phương pháp ăn dặm đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Điều quan trọng là, bằng cảm nhận của một người mẹ, ta sẽ tìm ra phương pháp ăn dặm phù hợp nhất cho con yêu của mình.
Cùng đem lên bàn cân 3 phương pháp ăn dặm phổ biến nhất hiện nay là : Ăn dặm truyền thống (ADTT), Ăn dặm kiểu Nhật (ADKN) và Ăn dặm bé tự chỉ huy (Baby Led Weaning – BLW) để xem đâu sẽ là phương pháp thích hợp nhất cho cả mẹ và bé.

Ăn dặm truyền thống (ADTT)

Nhiều ý kiến cho rằng phương pháp ADTT không còn phù hợp với ngày nay. Thực tế không hẳn như vậy. Mỗi năm vẫn 
có hàng triệu trẻ em Việt Nam đến tuổi ăn dặm được các bà các mẹ cho ăn theo phương pháp này. Từ việc quấy bột cho con, xay chung thức ăn rau củ, thịt thà đến nhuyễn rồi khi trẻ mọc răng sẽ chuyển sang ăn cháo dần. Thức ăn kèm vẫn được cho vào chung với cháo thành một bát đủ dinh dưỡng.

 'can' 3 cach an dam 'hot' nhat hien nay - 1

Trẻ ăn dặm truyền thống thường ăn chung một bát bột xay lẫn cả rau củ và thịt cá (ảnh minh họa)

Một số lỗi trong cách ADTT có thể khiến nhiều bà mẹ ngày nay “tẩy chay” phương pháp này đó là: Vì trẻ ăn nhuyễn nhiều nên khả năng ăn thô kém, đôi khi đã 2 tuổi vẫn phải ăn cơm nhá, rất mất vệ sinh hay như việc ninh xương nấu cháo cho trẻ, cho bé đi ăn rong, vừa ăn vừa hò hét, nhảy múa... Nấu chung nguyên liệu sẽ khiến bé khó cảm nhận mùi vị, từ đó sinh chán ăn, biếng ăn, kén chọn thực phẩm sau này.
Tuy nhiên, ADTT có hai ưu điểm lớn: Một là dạ dày của bé sẽ không phải làm việc 'quá tải' sớm và hai là phương pháp này  rất phù hợp cho những mẹ bận rộn và không có thời gian chế biến cầu kì.

Ăn dặm kiểu Nhật (ADKN)

Phương pháp ADKN đang rất được ưa chuộng tại Việt Nam do những ưu điểm hợp lý và có cơ sở khoa học. Một số đặc điểm dễ nhận biết nhất của phương pháp ADKN đó là:
- Cho bé ăn thô đúng thời điểm: Trẻ ADKN bắt đầu làm quen với thức ăn ngay bằng cháo loãng qua rây tỷ lệ 1:10 chứ không quấy bột. Sau này, độ thô của cháo sẽ tăng dần theo độ tuổi. Các loại thức ăn khác như rau, thịt cũng được chế biến riêng với độ thô phù hợp.
- Ăn riêng từng loại thức ăn: Khác với ADTT, một khay thức ăn của trẻ ADKN bao giờ cũng đủ ba nhóm thực phẩm: Tinh bột, vitamin và chất đạm theo tiêu chuẩn “vàng – đỏ - xanh”. Những loại thực phẩm này được chế biến riêng biệt và không trộn lẫn.
Để trẻ tập ăn nhạt, ăn dò từng loại thực phẩm từ rau củ đến thịt cá để làm quen dần.
- Tinh thần của ADKN: Cho bé ăn trên ghế, không ăn rong, bật tivi. Khi trẻ không ăn nữa, tuyệt đối không thúc ép nhồi nhét. 

 'can' 3 cach an dam 'hot' nhat hien nay - 2

Một "suất ăn kiểu Nhật" cho bé thường gồm nhiều món riêng biệt (ảnh minh họa)

Ưu điểm dễ nhận thấy nhất của phương pháp ADKN đó là trẻ sẽ có khả năng ăn thô sớm hơn rất nhiều so với các bé theo phương pháp ADTT. Thêm vào đó, việc ăn riêng từng loại thức ăn sẽ giúp bé làm quen tốt hơn với mùi vị của từng loại thực phẩm, không bị “hổ lốn” hỗn hợp, không nảy sinh tâm lý ngán ăn. Ăn nhạt sẽ tốt hơn cho thận của trẻ. Và một điều quan trong nhất: đó chính là tinh thần “kiểu Nhật”: Không thúc ép trẻ ăn, không tạo tâm lý sợ hãi khi ăn uống. Thiết lập cho bé thói quen ngồi ăn ngay từ tấm bé giúp trẻ ăn nhanh và tập trung hơn.
Tuy nhiên, để cho bé theo hoàn toàn phương pháp ADKN, mẹ sẽ mất rất nhiều thời gian và công sức giai đoạn đầu. Chuẩn bị cho con từng món ăn riêng biệt, chế biến và bảo quản thường rất lích kích.
Tại Nhật Bản, mỗi khi một người phụ nữ sinh con, họ thường nghỉ hẳn việc và ở nhà toàn tâm toàn ý chăm sóc đứa trẻ. Xã hội Nhật rất coi trọng việc mẹ chăm con và đề cao mối dây liên kết mẹ - con này. Mẹ Nhật luôn có thời gian và rất cầu kì trong việc ăn uống của con. Nếu xác định cho em bé của bạn ăn dặm theo phương pháp ADKN, mẹ Việt cần xác định và thu xếp tư tưởng cũng như thời gian biểu hợp lý.

Ăn dặm bé chỉ huy (Baby Led Weaning – BLW)

Ăn cùng bé, cùng lúc, cùng bàn là tinh thần chính của phương pháp ăn dặm này. Không có quấy bột, cũng không có cháo loãng. Trẻ ăn ặn theo phương pháp BLW sẽ tự ăn và ăn thô y như người lớn ngay từ lần ăn dặm đầu tiên. Không lo việc trẻ không răng sẽ không nhai nhá được gì. Con hoàn toàn có thể dùng lợi để nghiền thức ăn. Mặt khác, trẻ giai đoạn này sữa vẫn là thức ăn chính. Do đó ăn dặm chỉ để bé làm quen với các loại thực phẩm. Mẹ cho con ăn dặm theo BLW thường không quá chú trọng vào việc ban đầu con ăn được bao nhiêu mà tập trung vào việc dạy bé tập nhai.
Đặc điểm thứ hai cực “lạ” của BLW, đó là không thìa, không xúc, không bát đũa. Mẹ sẽ chuẩn bị cho con những thức ăn nguyên miếng được hầm mềm như: Vài miếng cà rốt, súp lơ, cơm nát nắm viên, lườn gà trắng xé nhỏ, cá gỡ xương, miếng chuối, bơ, táo hấp mềm… và để thẳng trên mặt bàn ăn của trẻ. Bé sẽ ăn bốc, tự cầm tay những thức ăn mình yêu thích để cho vào miệng. “Baby leads” có nghĩa là để con tự chỉ huy, tự quyết định mình sẽ ăn gì.
Thời gian đầu, trẻ có thể sẽ không ăn, cầm ném thức ăn lung tung, thậm chí bóp nát, cho vào miệng mút rồi vứt…..Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian làm quen với thực phẩm, con sẽ tự hình thành phản xạ cắn, nhai rồi nuốt. Từ đó, tiến thẳng đến giai đoạn tự mình xúc thìa.

 'can' 3 cach an dam 'hot' nhat hien nay - 3

BLW nghĩa là trẻ sẽ tự bốc thức ăn trên bàn để ăn (ảnh minh họa)


Ưu điểm của phương pháp này có thể kể đến:
- Tạo điều kiện cho bé khám phá mùi vị, kết cấu, mầu sắc của mỗi loại thức ăn riêng biệt 
- Giúp trẻ phát triển phối hợp tay-mắt, sự khéo léo và kỹ năng nhai 
- Trẻ sẽ có khả năng tự cầm thìa xúc từ rất sớm rất
- Cho phép bé ăn với khối lượng bé cần, theo thời gian của riêng bé, do đó tạo được thói quen ăn uống tốt sau này
- Mẹ không cần tốn thời gian chuẩn bị đồ ăn riêng cho con vì bé sẽ ăn ngay như một thành viên trong mâm cơm gia đình. (Có chăng thức ăn của con sẽ được nấu nhừ hơn một chút).
Tuy nhiên, vì sao BLW vẫn khiến các mẹ e dè? Có lẽ do phương pháp này rất dễ vấp phải những phản đối từ quan niệm của các thế hệ đi trước. Nhất là với những gia đình có mục tiêu muốn trẻ tăng cân nhanh, tăng cân nhiều thì phương pháp này sẽ rất dễ gây xung đột bởi trong vài tháng đầu tập ăn bốc BLW, trẻ sẽ chỉ làm quen với thức ăn và ăn rất ít. Thêm một “yếu điểm”: trẻ mới ăn dặm nếu ăn ngay đồ ăn thô miếng rất có thể sẽ dẫn tới hóc nghẹn. Thức ăn bốc để ngay trên bàn ăn đòi hỏi mẹ phải thường xuyên lau dọn vì mỗi lần trẻ ăn xong sẽ rất bừa bãi, nếu không chú ý vệ sinh còn có thể dẫn tới tiêu chảy.

Theo Hà My (Khampha.vn)

Tổng hợp thực đơn ăn dặm cho bé được 5 tháng tuổi theo từng tuần - Mới cập nhật


Đến tháng thứ 5 bé đã bắt đầu bước vào giai đoạn ăn dặm. Với những biểu hiện như việc hay lè lưỡi, nhấm nháp miệng,…. Khi thấy những biểu hiện này, mẹ cần lên ngay một thực đơn ăn dặm, giúp bé có thể bắt đầu quá trình ăn dặm để phát triển nhanh hơn và khỏe hơn
Các biểu hiện muốn ăn dặm của trẻ bao gồm:
Miệng nhai tóp tép bắt chước ng lớn.
Đùn lưỡi ra vào nhiều khi nhìn ng lớn ăn.
Đã ngồi khá vững (cứng cổ).
Mục đích của giai đoạn này là TẬP cho bé làm quen với cách ăn bằng thìa, với thức ăn đặc hơn sữa là chính.
Vì vậy, lượng ăn hàng ngày của bé nên tính theo thìa. Bắt đầu từ 1 thìa (1 thìa = 5ml) và có thể tăng dần nếu bé hào hứng.
Lượng tối đa là 10 thìa.

Cách thức cho bé ăn dặm ở tháng thứ 5

Lượng thức ăn dặm: 1 bữa/ngày
Lượng sữa bột/sữa mẹ: Tùy theo nhu cầu của bé
Độ mềm của thực phẩm: Nghiền nhuyễn
Thứ tự các loại thực phẩm cho bé ăn:
Nhóm I Ngũ cốc (Bắt đầu từ cháo trắng nghiền thật nhỏ)
NhómⅡ Rau, quả (Tiếp đến là rau củ nghiền thật nhỏ)
Nhóm Ⅲ Cá Thịt Đậu phụ Trứng Các sản phẩm từ sữa (Tiếp tới là đậu phụ và cá thịt trắng)

Tập cho bé 5 tháng ăn dặm thế nào?

  • Bắt đầu bằng cháo nấu tỷ lệ 1 gạo : 10 nước, cà nhuyễn. Lượng bắt đầu là 1 thìa ( 5ml)
  • Sau 1 tuần cho bé ăn cháo trắng nghiền, bắt đầu chế biến các loại rau củ và cho bé ăn kèm với cháo. Với bất kỳ 1 loại thực phẩm nào mới, lượng ăn chỉ nên là 1 thìa lúc ban đầu và theo dõi phản ứng của bé (rối loạn tiêu hóa, hay nôn trớ, v.v… nếu có) để có hướng xử trí phù hợp. Chỉ giới thiệu 1 loại thực phẩm mới mỗi lần và không trộn chung 2 loại thực phẩm.
  • Khi bắt đầu tuần thứ 3, cũng bắt đầu với 1 thìa đạm khi cho bé thử lần đầu tiên. Nếu tăng lượng thì chỉ cho bé ăn từng phần nhỏ mỗi lần. Mục đích của giai đoạn này chỉ là tập ăn và giới thiệu mùi vị của các loại thực phẩm mà thôi, sữa vẫn là chính, do đó nếu như bé không khoái lắm thì cũng đừng quá sốt ruột hay lo lắng.
Chú ý trong quá trình tập cho bé ăn dặm
Nên chọn Cháo nghiền là món ăn đầu tiên để cho bé tập ăn dặm do đặc tính lành và mềm, mùi vị trung tính của gạo.
Tất cả đều bắt đầu với lượng là 1 thìa (5ml) trong mỗi lần giới thiệu thực phẩm mới cho bé.
Chỉ cho bé ăn từng thực phẩm mới mỗi lần, không được trộn lẫn để có thể biết được nguyên nhân gây ra dị ứng (nếu có)
Quan trọng nhất là vì đây mới là giai đoạn tập ăn và nếm thử mùi vị, do đó nếu như lượng ăn của bé không được như mong đợi thì mẹ cũng cần phải rất kiên nhẫn và kiên định.
Có thể cho bé ăn những gì
Tất cả các thực phẩm cho bé ăn trong giai đoạn này cần được nấu chín nhừ và nghiền nhuyễn.
Không nêm mắm muối để bé có thể biết được vị tự nhiên của thực phẩm và từ đó đưa ra lựa chọn (thích hoặc không thích, ăn ít hoặc ăn nhiều)
(Danh sách gợi ý)
Nhóm đường bột : Gạo, bánh mỳ, mỳ, khoai tây, khoai lang, chuối
Nhóm đạm:Lòng đỏ trứng luộc, sữa chua trắng (không có vị gì, không đường), phô mai, đậu phụ, cá thịt trắng
Nhóm vitamin: Rau chân vịt, bắp cải, cải thảo, rau diếp, bông cải xanh, súp lơ, cà rốt, củ cải, củ dền, bí đỏ, cà chua, dâu tây, táo, đào
Cháo 1:10 là như thế nào?
Bước 1: Vo gạo ăn chung cho cả gia đình như bình thường
hoc lom me nhat nau an dam cho con - 1
Bước 2: Lấy một cái bát sứ con, múc 1 thìa gạo và 10 thìa nước vào bát.
 hoc lom me nhat nau an dam cho con - 2
Bước 3: Đặt bát sứ con lên trên lớp gạo trong nồi lớn, ở trung tâm của nồi. Cho vào nấu như bình thường
 hoc lom me nhat nau an dam cho con - 3
Bước 4: Khi gạo chín, lấy bát sứ ra. Chỗ cơm còn lại là cơm ăn của cả gia đình.
 hoc lom me nhat nau an dam cho con - 4
Bước 5: Dùng chày nghiền nhuyễn cháo. Hoàn thành.
 hoc lom me nhat nau an dam cho con - 5


Độ đặc loãng có thể lấy sữa chua làm đối chứng.
Cháo đạt yêu cầu là trước khi nghiền, hạt cháo phải mềm nhừ, chỉ cần ăn nhẹ vào miệng đã tan ở đầu lưỡi.

Cho bé ăn vào lúc nào?
Bữa ăn dặm nên được tách ra riêng biệt so với cữ sữa của bé. Một phần là để cho bé nhận thức đc đó là ăn dặm, phần khác quan trọng hơn là để phòng ngừa khả năng rối loạn tiêu hóa có thể xảy ra nếu kết hợp thực phẩm nào đó với sữa.
Thời gian cho ăn hay được khuyên là 9 – 10h sáng, thời điểm bé tỉnh táo và dễ dàng hợp tác. Tuy nhiên giờ ăn có thể thay đổi để phù hợp với lịch sinh hoạt của từng gia đình.
Một gợi ý là cho bé ăn gần hoặc trùng giờ với giờ ăn của cả nhà để bé có thể hưởng niềm vui ăn uống cùng mẹ và mọi người.
Cần lưu ý tới các giấc ngủ của bé, tránh cho bé ăn trong lúc ngái ngủ dễ khiến bé không thoải mái.

Thực đơn gợi ý ăn dặm cho bé 5 tháng chi tiết từng tuần

Đây là thực đơn gợi ý mà 1 bà mẹ ở Nhật đã áp dụng cho bé trai của mình. Các mẹ tham khảo để biết trình tự cho bé ăn như thế nào là đúng nhé.
(Đây chỉ là gợp ý, các mẹ hoàn toàn có thể thay đổi các loại thực phẩm theo điều kiện và hoàn cảnh của gia đình chứ ko cần nhất nhất làm giống y như thế này đâu nhé!)
Tuần 1:
Ngày đầu tiên: Cháo trắng (1 thìa)
Ngày 2: Cháo trắng (1 thìa)
Ngày 3: Cháo trắng (1 thìa)
Ngày 4 :Cháo trắng (1 thìa)
Ngày 5: Cháo trắng (2 thìa)
Ngày 6 :Cháotrắng (2 thìa)
Ngày 7: Cháo trắng (2 thìa)
Tuần 2:
Ngày 8: Cháo trắng (3 thìa) – Bí dỏ nghiền (1/2 thìa)
Ngày 9 :Cháo trắng (4 thìa)- Bí đỏ nghiền (1/2 thìa)
Ngày 10:: Cháo trắng (4 thìa)- Cà rốt nghiền (1 thìa)
Ngày 11: Cháo trắng (4 thìa) – Cà rốt nghiền(1 thìa)
Ngày 12 :Cháo trắng (4 thìa) – Bí đỏ nghiền (1 thìa)
Ngày 13: Cháo trắng (4 thìa) – Bí đỏ nghiền (½ thìa) – Khoai tây nghiền(1 thìa)
Ngày 14 :Cháo trắng (5 thìa) – Bí đỏ nghiền (2 thìa) – Bắp cải nghiền(1 thìa)
Tuần 3:
Ngày 15 : Cháo trắng (5 thìa) – Khoai tây nghiền (1 thìa) – Cà chua nghiền (1 thìa)
Ngày 16 : Súp bí đỏ (8 thìa) – Cà chua và nc táo(2 thìa)
Ngày 17 :Cháo trắng (6 thìa) – hỗn hợp khoai tây và bắp cải nghiền(4 thìa)
Ngày 18 : Súp khoai tây (7 thìa) – bí đỏ nghiền(3 thìa)
Ngày 19 : Súp cà rốt (thìa 7) – Khoai tây nghiền (3 thìa)
Ngày 20 : bí đỏ nghiền (8 thìa) – – súp bắp cải (3 thìa)
Ngày 21: bông cải xanh(thìa 7) – khoai tây sốt cà chua (4 thìa)
Tuần 4:
Ngày 22 :Cháo trắng (6 thìa) – cà rốt nghiền(2 thìa) – bông cải xanh nghiền(2 thìa)
Ngày 23 : Cháo trắng (6 thìa) – bí đỏ nghiền(4 thìa)
Ngày 24: Cháo trắng (6 thìa) – Hỗn hợp táo và khoai tây nghiền(3 thìa)
Ngày 25 : Cháo trắng (6 thìa) – bí đỏ nghiền(4 thìa) – Hôn hợp táo và khoai lang nghiền(2 thìa)
Ngày 26 :Cháo trắng (7 thìa) – khoai tây và bắp cải nghiền (4 thìa) – Cá bơn nghiền (1 thìa)
Ngày 27 :Bông cải xanh nghiền(8 thìa) – Cá bơn sốt cà chua (2 thìa)
Ngày 28 : Bắp cải nghiền (8 thìa) – bí đỏ nghiền(2 thìa) – Đậu phụ luộc(1 thìa)
Tuần 5:
Ngày 29 : Dậu phụ nghiền (8 thìa) – khoai tâyvà cà rốt nghiền (3 thìa) – Nước đào (1 thìa)
Ngày 30 : bông cải xanh(8 thìa) – nghiền bí đỏ (2 thìa) – Đậu phụ luộc(1 thìa)
Ngày 31 : Cháo bánh mỳ (thìa 7) – Khoai tây sốt cà chua (4 thìa)
Ngày 32 : Cháo bánh mỳ 7) – cà rốt nghiền(2 thìa) – Cải ngọt nghiền (1 thìa)
Ngày 33 : Cháo cá bơn và cải ngọt (8 thìa) – bí đỏ nghiền(2 thìa) – )
Ngày 34 : cà rốt (8 thìa – Hỗn hợp món bánh gồm của khoai môn, hành tây, khoai tây, cá bơn, bông cải xanh(4 thìa)
Ngày 35 : Cháo bánh mỳ (8 thìa) – nghiền cà rốt (2 thìa) – bông cải xanh nghiền(2 thìa)

Saturday, April 9, 2016

TIÊM PHÒNG SỞI


1/ Các loại vắc xin sởi:
- Vắc xin sởi đơn: trong TCMR
- Vắc xin phối hợp 2in1: Sởi-Rubella (MR, trong TCMR) 
- Vắc xin phối hợp 3in1: Sởi-Quai bị-Rubella (MMR dịch vụ) 
- Vắc xin phối hợp 4in1: MMR+Thủy đậu (MMRV, chưa có ở VN)
2/ Lịch tiêm: 

- Cần tiêm sớm từ 9 tháng tuổi và cần phải đủ 2 mũi mới có hiệu quả sớm và mạnh.
- Vì chỉ có sởi đơn là dùng cho trẻ <12 th, do đó, có thể áp dụng các lịch tiêm sau:
* Sởi đơn lúc 9th (TCMR), Sởi-Rubella (MR) lúc 18th (TCMR), hoặc;
* Sởi đơn lúc 9th (TCMR), MMR lúc 12-15th (dịch vụ)
- Trong cả 2 cách trên, nên tiêm nhắc 1 mũi MMR (dịch vụ) khi trẻ 3-4 tuổi
- Trong mọi trường hợp, 2 mũi phải cách nhau hơn 4 tuần mới có hiệu quả.
------------

Wednesday, March 16, 2016

Chăm Sóc Trẻ Chậm Nói

Trẻ đến 3 tuổi mà chưa biết nói thì có thể nghi ngờ trẻ bị mắc bệnh tự kỉ, tuy nhiên không phải chậm nói là bị tự kỷ, cần thêm các triệu chứng điển hình để xác định. Phần lớn nguyên nhân trẻ chậm nói là do rối loạn cảm xúc và tâm lý trẻ có vấn đề, các bậc phụ huynh phải quan tâm chăm sóc trẻ chậm nói đúng cách để trẻ có thể phát triển bình thường.
Trẻ 3 tuổi đã có thể giao tiếp tốt bằng ngôn ngữ; ông bà ta có câu: “Thỏ thẻ như trẻ lên ba”. Nếu quá tuổi này mà trẻ chưa có khả năng trao đổi những điều thông thường nghĩa là đã bị chậm nói.
Hướng dẫn cách chăm sóc trẻ chậm nói đúng phương pháp để trẻ phát triển bình thường trở lại phần 1
Trung bình trẻ 1 tuổi có thể sử dụng được khoảng 10 từ ngữ; lên 1 tuổi rưỡi có khoảng 30-40 từ. Từ 1 tuổi rưỡi tới 2 tuổi, vốn từ của trẻ tăng lên rất nhanh: khoảng 300 từ; từ 2 tuổi đến 2 tuổi rưỡi: trên 500 từ. Cuối năm thứ 3, vốn từ có thể đạt tới 1.200-1.500 và trẻ có thể trao đổi được bằng lời nói những điều thông thường trong sinh hoạt.
Đó là khả năng của những trẻ được phát triển trong “môi trường ngôn ngữ” tốt (cha mẹ chăm trò chuyện với trẻ, gia đình đông anh chị em, được gửi vườn trẻ…). Những trẻ ở vùng cao, vùng sâu, ít được tiếp xúc thì ngôn ngữ thường kém phát triển hơn. Những trẻ đẻ non, còi xương, thể tạng yếu đuối, suy dinh dưỡng… cũng thường chậm nói, đi kèm với chậm mọi phát triển về vận động khác (lẫy, bò, đi…).
Với trẻ chậm nói, cần phân biệt 2 khả năng về ngôn ngữ. Nếu trẻ vẫn hiểu được lời nói (chỉ đúng những gì ta hỏi như “tai đâu, mắt đâu…” và thực hiện đúng những mệnh lệnh giản đơn như lấy mũ, dép) thì đó chỉ là chậm nói đơn thuần. Nếu được giúp đỡ tốt, những trẻ này có thể phát triển lời nói rất nhanh để không bị chậm trễ về mặt ngôn ngữ khi đến tuổi đi học.
Ngược lại, những trẻ bị chậm cả diễn đạt lẫn cảm thụ ngôn ngữ thường có căn nguyên nghe kém hoặc chậm khôn; việc giúp đỡ sẽ khó khăn hơn nhiều. Trẻ nhất thiết phải được thầy thuốc chuyên khoa tai khám, đo sức nghe và đo chỉ số IQ.
Trong quá trình học nói, trẻ cần có sức nghe hoàn hảo để ghi nhận được chính xác các âm thanh của lời nói, có trí tuệ tốt để phân biệt và ghi nhớ mối liên hệ giữa khái niệm và tên gọi của nó. Mặt khác, khả năng phát âm của trẻ còn phụ thuộc vào sự thuần thục dần của hệ thần kinh (lời nói đòi hỏi sự hiệp đồng tinh tế nhiều cơ của bộ máy phát âm và cấu âm), không thể đốt cháy giai đoạn.
Các chỉ số của phát triển ngôn ngữ ở trẻ vào giai đoạn học nói (từ 1 tuổi đến 3 tuổi) phản ánh rất đầy đủ sự phát triển đồng bộ về thể chất và trí tuệ của trẻ trong giai đoạn này. Vì vậy, các bậc cha mẹ cần hết sức quan tâm theo dõi.

Cha mẹ cần chú ý tới hành vi của con

Trả lời về vấn đề này, bác sĩ Nguyễn Thị Anh Thư (Khoa Nhi, Bệnh viện Việt Pháp) cho rằng cha mẹ nên chú ý đến hành vi của con, nếu thấy con mình có bất kỳ những dấu hiệu bất thường nào về ngôn ngữ, về phản xạ, hãy nhanh nhất đưa con tới bệnh viện để được các bác sĩ có chuyên môn can thiệp kịp thời.

Dấu hiệu của trẻ tự kỷ

Trên 10 tháng tuổi, bé ngoan, khó ngủ, bé thu mình, không quan tâm đến người khác, một mình mình một thế giới, không thích chơi với bạn cùng lứa tuổi, tránh tiếp xúc tối đa, khó khăn khi tham gia các trò chơi, thích thú khi chơi đồ chơi một cách khác thường, hung hăng, dễ tự làm tổn thương bản thân, không phản ứng với tiếng gọi, ánh mắt đờ đẫn, không biết đáp lại khi có người gọi tên, mất kỹ năng ngôn ngữ hoặc xã hội….
Nguyên nhân gây nên hội chứng này có thể do các yếu tố sinh học hoặc môi trường, hoặc cả hai, bao gồm cả các yếu tố nhiễm khuẩn lúc mang thai, các khiếm khuyết của hệ thống miễn dịch, gen.

Dấu hiệu trẻ bị điếc bẩm sinh:

Trẻ từ 4 tháng tuổi trở lên không có bất kỳ phản ứng nào với âm thanh lạ (dù rất to); không trao đổi ê a, không quay đầu lại với người thân (do bé không nghe được hoặc nghe thấy âm thanh vô cùng nhỏ); phát triển mạnh ngôn ngữ nét mặt, điệu bộ, cử chỉ (vì không thể biểu lộ mình bằng lời nói); bé không thích đập, ném đồ chơi (thường những bé có thính lực tốt, bé sẽ rất thích nghe những âm thanh của những vật phát ra)…
Nguyên nhân khiến bé bị điếc bẩm sinh có thể do di truyền từ người thân trong gia đình; do trong quá trình mang thai và sinh nở người mẹ gặp bất thường (sinh non, đẻ khó, bé bị ngạt trong quá trình ra đời); hoặc do bé bị bệnh viêm tai, viêm màng não, sởi, quai bị…
Bên cạnh đó, có rất nhiều em bé bị mắc bệnh về tâm lý như rối loạn tâm lý, rối loạn hành vi, chậm nói; hay điếc bẩm sinh… bị nhầm là tự kỷ hoặc ngược lại.
Bác sĩ Anh Thư nhấn mạnh, đúng là những biểu hiện của bệnh tự kỷ và điếc bẩm sinh có sự giống nhau như chậm nói; sống thu mình song những bé tự kỷ không bị điếc, bé vẫn nghe thấy những âm thanh, tiếng ồn phát ra xung quanh mình nhưng bé “lờ đi”, chắc chắn nếu có tiếng động bất ngờ, bé tự kỷ vẫn bị giật mình.
Còn với em bé không may bị điếc bẩm sinh thì khả năng nghe và phản ứng lại với âm thanh là hoàn toàn không có.
Trẻ chậm nói thường sống khép kín vì không biết chia sẻ thế nào với người khác, hoặc cũng có thể tìm cách “gây hấn” bằng những hành động “cào cấu”, điều này càng dễ bị hiểu lầm là trẻ tự kỷ.
Tóm lại, cha mẹ cần chú ý tới sự phát triển của con theo từng mốc giai đoạn cụ thể, khi phát hiện ra có những dấu hiệu lạ về hành vi, ngôn ngữ của con, cha mẹ cần bình tĩnh đưa con tới bệnh viện để thăm khám.
Hướng dẫn cách chăm sóc trẻ chậm nói đúng phương pháp để trẻ phát triển bình thường trở lại phần 2

Tự kỷ là hiện tượng rối loạn về tương tác xã hội, rối loạn về giao tiếp và có hành vi lặp đi lặp lại. Việc chẩn đoán thường dựa vào quá trình phát triển tâm sinh lý của trẻ. 

Ví dụ:

Nếu cha mẹ chú ý có thể phát hiện bệnh khi trẻ mới ở tháng đầu sau khi sinh. Đối với những đứa trẻ bình thường, chúng có thể nghe và ngửi được mùi của mẹ, khi được mẹ ôm vào lòng sẽ có biểu hiện khoan khoái dễ chịu nhưng trẻ tự kỷ thì không tiếp nhận được bằng các giác quan.
Thường thì trẻ 3 tháng có thể tự ngóc đầu được nhưng trẻ tự kỷ không thể làm như vậy, khi được bồng bế cơ thể như đờ ra.
Lúc 6 tháng tuổi, trẻ tự kỷ sẽ có biểu hiện quá ngoan hoặc quá hung hăng, không cười, nhìn xa xôi, không bám lấy mẹ (ai bế cũng được), không biết cách ôm ấp lại mẹ, không biết phát âm những tiếng đơn giản như a, à, ba… Trẻ bình thường ở độ tuổi này rất thích đồ chơi nhưng trẻ mắc bệnh tự kỷ lại không chú ý đến.
Khi được 1 tuổi, trẻ tự kỷ vẫn không tiếp xúc bằng mắt, không biết bắt chước, thờ ơ với tiếng động.
Lên 2 tuổi, trẻ có những vận động bất thường như đi bằng đầu ngón chân, ngồi hay lắc người, vặn xoắn tay chân… Ngôn ngữ lặp lại, tiếp xúc kém, tình cảm nghèo nàn, vệ sinh chưa tự chủ…
Trước đây, các nước trên thế giới điều trị bệnh tự kỷ như bệnh tâm thần. Ngày nay hướng điều trị mới cho các trẻ mắc bệnh này là chữa bệnh bằng tâm lý. Cụ thể:
  • Xây dựng lại cấu trúc tâm lý và nhân cách cá nhân tùy từng trường hợp cụ thể, giúp trẻ trở lại đúng khung tâm lý của trẻ.
  • Xây dựng và phát triển mối quan hệ giữa trẻ với gia đình (đặc biệt là với mẹ), quan hệ giữa trẻ với giáo viên, với bạn bè và môi trường xung quanh để thiết lập mối quan hệ tương tác xã hội.
  • Tập cho trẻ có ý thức về bản thân và tự khẳng định bản thân.
  •  Tập phát triển ngôn ngữ phù hợp với khả năng của trẻ.
Những Nguyên Nhân Làm Cho Trẻ Chậm Nói
1. Quá chiều con, không cho con có cơ hội được nói
Đây là lỗi hay gặp của mẹ làm ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp của trẻ, là nguyên nhân trẻ chậm nói. Ai cũng biết rõ, khi vốn từ vựng của bé chưa được hoàn thiện, nên để giao tiếp với mọi người xung quanh, con thường phải dùng hành động, cử chỉ để biểu đạt mong muốn của mình.
Khi  muốn uống sữa hay muốn lấy bất cứ một thứ gì, trẻ sẽ tự tay mình chỉ hoặc sẽ cầm tay mẹ và hướng đến các đồ vật đó. Lúc đó, các mẹ sẽ hiểu được mong muốn của con và nhiều người đã không ngần ngại mà ngay lập tức đi lấy giúp con. Hành động này nếu lặp lại nhiều lần sẽ là nguyên nhân sâu xa khiến con chậm nói. Thay vì vội vàng giúp con, các mẹ nên gợi chuyện để hỏi con “con cần gì nào?”, “đó là cái gì nhỉ?”… Gợi câu hỏi cho con là một cách tốt để trẻ có phản ứng lại trước những lời nói của mẹ.
Việc chiều con, nhanh chóng đáp ứng mọi yêu cầu, không chỉ ảnh hưởng đến khả năng ngôn ngữ, mà còn tác động xấu đến tính cách của trẻ. Một khi con biết mọi yêu cầu của mình sẽ nhanh chóng được đáp ứng, chúng sẽ sinh ra nhiều yêu cầu và đòi hỏi, dễ hình thành thói phụ thuộc và lười vận động.
2. Cho trẻ xem tivi quá nhiều

Tivi, máy tính hay mọi thiết bị truyền thông thông tin đều có một tác dụng đó là giúp trẻ học hỏi và tiếp thu được những điều mới lạ xung quanh cuộc sống. Không những vậy, các thiết bị này còn được nhiều mẹ biến thành “cô trông trẻ” hữu hiệu, bởi họ nhận thấy rằng mỗi khi cho bé ngồi xem tivi là y như rằng con sẽ ngoan ngoãn hơn. Và những lúc như vậy là thời điểm tốt để mẹ có thể yên tâm làm các công việc khác.
Tuy nhiên, nếu mẹ quá lạm dụng “cô trông trẻ” này thì sẽ khiến cho bé lười nói chuyện. Khi cho con xem Tivi, bé chỉ được tiếp nhận thông tin một chiều, bởi lúc đó bé chỉ con có cơ hội nghe nhưng lại không có cơ hội để nói. Không những ảnh hưởng đến khả năng ngôn ngữ của trẻ, việc xem tivi quá nhiều cũng là nguyên nhân khiến mắt con không được khỏe, dễ dẫn đến tình trạng cận thị, ảnh hưởng nghiêm trọng đến vấn đề học tập sau này.
Thay vì để con ngồi hàng giờ trước tivi thì mẹ hãy dành thời gian nhiều hơn để cùng con chuyện trò. Khi được giao tiếp với mẹ, bé sẽ đáp ứng được cả hai nhu cầu đó là nghe và nói.
Có một cách để cho bé xem tivi và vẫn có thể kích thích được ngôn ngữ của con là mẹ hãy ngồi xem cùng con. Mẹ vừa xem với trẻ vừa diễn giải các nhân vật, về cái sai cái đúng cho trẻ nghe và hiểu, giúp trẻ có phản xạ ngôn ngữ tốt hơn.
3. Lười nói chuyện với con
Đối với trẻ sơ sinh, vốn từ ngữ của con hầu như là chưa được hình thành. Nên khi các mẹ giao tiếp với con sẽ chỉ là một cuộc độc thoại đơn lẻ từ phía mẹ, bởi có thể mẹ sẽ nói rất nhiều nhưng đáp lại chỉ là những tiếng ê,a. Trong hoàn cảnh này, nếu các mẹ nhanh chán mà không kiên trì để duy trì các cuộc nói chuyện với con thì sẽ là nguyên nhân khiến trẻ chậm nói.
Dù bé mới bập bẹ, ê a… thì cha mẹ vẫn nên nói chuyện liên tục cùng bé. Khi còn nhỏ, việc bé tăng vốn từ vựng và dần biết nói sẽ thông qua một cách duy nhất là lắng nghe người lớn nói chuyện với nhau. Không những vậy, việc trẻ sơ sinh được lắng nghe giọng nói của mẹ ngay từ đầu sẽ là cách tốt nhất để con ghi nhớ mẹ.
Mỗi ngày, mẹ hãy dành thời gian để hàn huyên cùng con, dù cho con có không hiểu những điều mẹ nói nhưng đây cũng là khoảng thời gian vàng để mẹ con có thể được ở cạnh nhau.
4. Hạn chế cho trẻ được tiếp xúc với bên ngoài

Nhiều bố mẹ lo ngại những mặt xấu của xã hội hiện nay như bắt cóc, học theo thói hư tật xấu… có thể ảnh hưởng đến con mình, nên hạn chế cho trẻ ra ngoài chơi. Thay vì cho con được ra ngoài vui chơi với bạn bè, các mẹ chấp nhận nhốt con trong nhà một mình và chỉ chơi với các đồ chơi vô tri như búp bê, xe đồ chơi, xếp hình…Thế nhưng những đồ chơi này lại không phải những gì trẻ thật sự cần lúc này. Chính điều này là nguyên nhân trẻ chậm nói.
Các mẹ cần biết rằng, trẻ cần có một môi trường vui vẻ, hòa đồng, có bạn bè, môi trường tự nhiên để hòa nhập. Ở trong môi trường như vậy, trẻ có nhiều bạn bè nên đương nhiên sẽ nảy sinh nhu cầu muốn giao tiếp, muốn nói chuyện, muốn giao lưu. Nếu không cho trẻ đi ra ngoài nhiều, vui chơi với bạn bè trẻ chậm nói hơn hoặc nguy hiểm hơn sẽ vô tình dồn trẻ vào bệnh tự kỷ.
Các ông bố bà mẹ đừng quá bao bọc con mà khiến con mắc bệnh hay nặng hơn là dễ trở thành những đứa trẻ thụ động. Chính vì vậy, người lớn nên tạo cơ hội cho con được giao lưu, gặp gỡ nhiều bạn nhỏ cùng tuổi. Điều này sẽ giúp trẻ nhanh biết nói.
5. Dạy cho con những từ ngữ khó ngay từ đầu
Khi trẻ mới tập nói, mẹ đã vội vàng cho con tiếp thu những từ ngữ khó sẽ tạo khó khăn cho con. Bởi khẩu hình của con chưa hoàn thiện, việc phải nói những từ quá khó làm các con không nói theo được.
Do đó, khi dạy bé nói, không nên dùng những từ khó khăn, phức tạp, mà nên dùng những từ đơn giản, đúng quy tắc ngôn ngữ để dạy bé. Phải kết hợp một vài từ giúp bé gọi người thân, cơ thể, thức ăn, đồ chơi, phối hợp với những từ ngữ dùng trong sinh hoạt hàng ngày để dạy trẻ.
    Trong việc dạy trẻ, một điều rất quan trọng là cần kết hợp giữa SỰ VUI THÍCH và YÊU CẦU. Nếu muốn trẻ học tốt, trẻ phải có sự vui thích trong khi học, vì vậy việc hướng dẫn từ ngữ nên thông qua các trò chơi là chính, phải biến đổi cả những hoạt động bình thường như ăn uống…cũng có thể trở thành những trò chơi để trẻ luôn luôn đáp ứng trong sự tự nguyện vì vui thích và mong muốn chứ không phải đáp ứng vì ép buộc hay miễn cưỡng trong sự lo lắng.

    Nguyên tắc can thiệp khi trẻ Chậm nói
    Chậm nói là một dấu hiệu xuất hiện trong nhiều rối nhiễu tâm lý khác nhau, từ tình trạng chậm khôn cho đến trẻ có hội chứng Tự kỷ đều có tình trạng chậm nói, nhưng sự rối loạn ngôn ngữ ở trẻ tự kỷ thường đa đạng và phức tạp hơn.
    Trẻ tự kỷ có thể nói rất rõ, nhưng lại là những từ vô nghĩa hay không đúng ngữ cảnh, như khi ngó ra ngoài đường nhìn những chiếc xe qua lại, trẻ lại thốt lên: Cái ly đâu rồi?
    Còn một trẻ chậm nói do tình trạng chậm khôn là do trẻ không đủ vốn từ để diễn tả, chúng ta sẽ có cảm nhận là trẻ rất muốn nói nhưng lại không biết nói như thế nào, hoặc chỉ có thể nói được từng từ một.
    Vì vậy, nếu chỉ dựa trên một biểu hiện là chậm nói để kết luận đó là một trẻ Tự Kỷ hay đó là trẻ Chậm khôn là một điều vội vã, cần phải có sự quan sát, chẩn đoán đầy đủ và kỹ lưỡng hơn.
    Hướng dẫn cách chăm sóc trẻ chậm nói đúng phương pháp để trẻ phát triển bình thường trở lại phần 3

    Nguyên lý chăm sóc trẻ

    Việc chăm sóc cho trẻ chậm nói là một tiến trình lâu dài, cần phải có một kế hoạch cụ thể, qua đó cha mẹ phải tìm ra được những gì mà trẻ có thể làm, ta xem trẻ đang cố gắng giao tiếp bằng cách nào: Dùng điệu bộ, từ hay âm. Khi biết trẻ có ý định giao tiếp ta hãy giúp trẻ có khả năng giao tiếp với từng loại thông tin khác nhau. Khi trẻ chỉ có phản ứng, ta vẫn chấp nhận phản ứng của trẻ nhưng cố gắng giúp trẻ chủ động hơn trong sự giao tiếp.
    Trong trường hợp trẻ tỏ ra không biết hay không muốn giao tiếp, ta cần có những tác động kích thích (ôm ấp, vỗ về, hỏi han, cười, nhìn trẻ) Và khi trẻ đã có phản ứng, hãy khích lệ trẻ để trẻ có thể nói (bằng lời hay bằng dấu hiệu) các nhu cầu của mình.
    Trẻ có thể có những phản ứng đồng ý hay không đồng ý, đôi khi chúng ta cần có những tác động để trẻ phản đối (lấy đồ chơi, bắt trẻ ngưng làm điều mà trẻ thích) nhưng là để quan sát cách biểu lộ bằng hành vi hay ngôn ngữ để phản đối của trẻ chứ không nên kéo dài, hay cố gắng trêu chọc dể trẻ phải phản ứng mạnh hơn.
    Trong cuộc sống, trẻ sẽ có sự quan sát và ghi nhận những hoạt động bằng hình ảnh và ngôn ngữ xảy ra chung quanh mình. Vì vậy bố mẹ cần tích cực trong việc :
    • Chào hỏi nhau, chào hỏi bạn bè, họ hàng, con cái … để trẻ học và hiểu ý nghĩa các lời chào hỏi này. Và thường xuyên tác động khi gặp trẻ bằng những câu chào hỏi.
    • Mô tả, nói ra những nhu cầu của trẻ, những yêu cầu và hành động của bố mẹ, của những người xung quanh, giúp trẻ tăng cường vốn từ, sự hiểu biết.
    • Khi chơi với trẻ, hãy thường xuyên đặt câu hỏi và tự trả lời (vì trẻ sẽ không thể trả lời ngay, hay chỉ có thể phản ứng bằng hành động: gật đầu, lắc đầu, đẩy ra, đưa tay tóm lấy… )
    • Thỉnh thoảng có thể dấu một món đồ đi và đặt ra câu hỏi: Con búp bê đâu rồi ?
    Như vậy, việc lập một kế hoạch tập nói cho trẻ phải dựa trên các yếu tố sau:

    • Nói với trẻ, diễn giải ra bằng ngôn ngữ nói càng nhiều càng tốt.
    • Nói và giải thích, hỏi và trả lời một cách thật cụ thể.
    • Tạo ra mọi cơ hội trong mọi thời điểm và ở mọi nơi.
    • Chú trọng yếu tố vui thích trong mọi yêu cầu.

    Xây dựng quan hệ xã hội giúp trẻ thích giao tiếp

    Phát triển sự quan hệ với mọi người là một yêu cầu thiết để giúp trẻ học cách giao tiếp. Từ nhỏ, trẻ chậm phát triển ngôn ngữ thường có sự hạn chế trong việc giao tiếp với mọi người, đặc biệt là với những người thân. Vì vậy trẻ cần được tăng cường các hoạt động tiếp xúc gần gũi như trong các trò chơi, cười đùa, bồng ẵm, gây tiếng động và tiếp xúc qua ánh mắt, đặc biệt là đối với bố mẹ. Bố mẹ có thể tạo ra mối quan hệ thông qua một hoạt động cùng nhau (ăn chung, chơi chung, làm một việc gì đó trong nhà chung với nhau) hay thông qua một vật (cùng trò chuyện qua một câu chuyện kể với những con búp bê, con rối – cùng nhìn về một vật, một hình ảnh nào đó) Cùng xem tranh với trẻ, chỉ cho trẻ các hình ảnh và nhân vật với lời thuyết minh ngắn gọn rõ ràng, cụ thể và đơn giản.
    Ngay cả trong các hoạt động bình thường, khi thấy trẻ có vẻ muốn hỏi (đưa mắt nhìn) ta nên nói cho trẻ biết công việc mình đang làm: Mẹ đang nấu cơm, đang soạn bài, đang xếp quần áo, đang đánh vi tính … Khi trao đổi, cha mẹ nên nói một cách chậm rãi, kiên nhẫn chờ trẻ trả lời dù rất ngắn với thái độ vui vẻ, khích lệ. Bố mẹ nên tìm ra các hoạt động đơn giản trong khi chơi với trẻ để dạy như lần lượt tung quả bóng lên – xây các tháp gỗ bằng cách lần lượt đặt các mẩu gỗ lên – lần lượt vỗ tay …
    Bắt chước là một kỹ năng thiết yếu trong việc giao tiếp, trẻ có thể bắt chước hành động (ngôn ngữ không lời) và tiếng nói. Với trẻ bắt chước bằng hành động là dễ nhất, và thông qua những hành động mà trẻ có khả năng bắt chước, ta có thể đánh giá khả năng tiếp thu của trẻ. Ta có thể kích thích hay tập cho trẻ bắt chước bằng cách bắt chước chính những động tác của trẻ
    Ví dụ: Trẻ dơ tay sờ mũi, ta cũng sờ mũi trẻ sẽ bắt chước lặp lại hành vi trên, điều này sẽ tạo ra sự chú ý cho trẻ, từ đó chuyển sang hành động khác như sờ tai, trẻ sẽ làm theo…
    Với một số trẻ tỏ ra thờ ơ trong việc bắt chước, ta hãy kiên nhẫn tập cho trẻ lập lại những động tác trên bằng cách nắm lấy tay trẻ sờ vào mũi, vào tai của ta – Sự tiếp xúc trực tiếp giữa hai cơ thể là điều kích thích cảm giác nơi trẻ . Khi trẻ đã bắt đầu có hứng thú trong việc bắt chước các hành động, ta sẽ chuyển dần sang sự bắt chước các âm thanh. Cũng bắt đầu với âm thanh mà trẻ tự phát ra hay tự bắt chước. Việc khen thưởng và động viên bằng hành động (vuốt ve, xoa đầu, ôm vào lòng, cười hài lòng) hay bằng lời nói ( khen ngợi) là điều quan trọng, cần tiến hành thường xuyên trong việc tập cho trẻ các hành vi bắt chước.
    Thường trẻ thích bắt chước tiếng súc vật (gà gáy, chó sủa …) tiếng xe cộ, máy bay … trước khi nói được. Hoạt động này, nếu có điều kiện nên diễn ra với sự tham gia của các trẻ khác hay với các người thân trong gia đình – Bố me, anh chị cùng tham gia, cùng phát âm (trong những trò chơi) để trẻ được kích thích, khích lệ phát ra lại các âm thanh đã nghe được.
    Ta hãy hình dung một người nước ngoài đến Việt Nam, hay khi đi ra nước ngoài mà không biết một ngoại ngữ nào, điều đó cũng giống như một đứa trẻ, lớn lên giữa một biển âm thanh, nghe được tất cả nhưng không hiểu đó là gì! Vì thế trẻ phải được tạo điều kiện để được lắng nghe, và được giải thích với những hình ảnh cụ thể, sinh động.
    Khi ta nghe từ “mèo” ta có ngay hình ảnh một con thú nhỏ, có bộ lông mịn, hai tai nhọn, đôi mắt long lanh, cái đuôi ngoe nguẩy, và tiếng kêu meo meo rất đặc trưng. Đó chính là những ảnh có trong tâm trí của ta, do đã được ghi nhận qua nhiều lần tiếp xúc với con mèo thực. Tuy nhiên, cũng có những con thú đã tuyệt chủng như khổng tượng, khủng long… nhưng khi nhắc đến các con thú này, ta vẫn có được những hình ảnh của chúng, do đã được xem qua trên phim ảnh, trong các câu chuyện có hình ảnh minh họa … Vì vậy, đó cũng là một phương tiện giúp cho trẻ hình thành được những hình ảnh trong tâm trí, mà ta gọi đó là những hình ảnh trí tuệ (mental pictures). Tuy nhiên, để làm được việc ghi nhận những hình ảnh, gắn liền nó với một danh từ nào đó, thì khả năng trí tuệ của trẻ phải phát triển đến một trình độ nhất định, và điều đó chỉ có thể có được qua tập luyện.
    Ta nên biết rằng trẻ nhỏ dưới 1 tuổi ít khi nhìn theo một vật đang rời xa khỏi tầm mắt của chúng, vì với trẻ, hình ảnh đó không còn tồn tại nữa. Để tập cho trẻ khái niệm tồn tại, thì một trò chơi đơn giản mà rất nhiều bố mẹ đã từng chơi, đó là trò “ú òa” hay trốn tìm. Bố mẹ sẽ dùng tay hay cái quạt giấy, bìa sách, cái gối, cái mền.. che mặt mình lại, dấu người mình đi hay che một vật nào đó, rồi mở ra cho trẻ thấy, rồi lại che đi … điều này được lập đi lập lại, và sẽ tạo cho trẻ một nhận thức về sự tồn tại.
    Từ khả năng này, cần phải tập cho trẻ phân biệt sự khác nhau giữa các vật, bằng cách cho trẻ chơi (tiếp xúc) với các vật, không chỉ đơn thuần là những món đồ chơi, mà có thể đó là những vật thực (trái banh, cái muỗng, cái ly, cái bàn chải …. ) trẻ có thể cầm, nắm ,đập, xé, nhai thử … Từ đó trẻ sẽ khám phá ra sự khác biệt về cảm giác, trọng lượng, âm thanh, mầu sắc … Và khi trẻ đang khám phá, thì ta có thể gọi tên các vật đó, nhiều lần trẻ sẽ có khái niệm, biết được món đồ đó, và có thể nói lại vào một thời điểm thích hợp.
    Tiến trình can thiệp cho trẻ Chậm nói là một chuỗi các hoạt động kéo dài từ 6-12 tháng hay hơn nữa, vì vậy sự kiên nhẫn và lạc quan là điều quan trọng nhất.

    CHĂM SÓC RĂNG MIỆNG CHO BÉ


    Phụ huynh cần phải chăm sóc răng miệng cho bé ngay từ những năm tháng đầu đời.

    Chăm sóc răng miệng của trẻ đúng cách ngay từ đầu và sau đó dạy cho trẻ biết tự chăm sóc, vệ sinh răng miệng.


    1. Cho bé làm quen với việc làm sạch miệng trước khi bắt đầu mọc răng
    Sau khi cho ăn, cần nhẹ nhàng lau sạch nướu răng của trẻ bằng khăn ẩm quấn quanh ngón tay.
    2. Bắt đầu chăm sóc răng cho trẻ ngay khi mới bắt đầu mọc
    Một điều chắc chắn là răng sữa sẽ không tồn tại mãi, tuy nhiên nó có tầm quan trọng như răng vĩnh viễn sẽ mọc sau này. Răng sữa sẽ giữ không gian mà răng vĩnh viễn cần để có thể mọc đúng vị trí, đồng thời cũng giúp trẻ có thể nói và ăn. Vì thế, việc giữ vệ sinh răng sữa là rất cần thiết.
    Dấu hiệu đầu tiên của sâu răng chính là răng ố màu. Cách tốt nhất để tránh sâu răng ở trẻ nhỏ là không bao giờ để bé đi ngủ với một chai sữa hoặc nước quả đang bú dở.3. Tìm kiếm những lỗ sâu răng
    Nếu bé có thói quen đi ngủ khi đang bú bình thì sẽ không thể tẩy rửa răng của mình. Điều đó có nghĩa là những thức uống ngọt (sữa thường có chứa nhiều đường) đó sẽ bao phủ răng trẻ trong nhiều giờ đồng hồ. Nếu bé cần có bình mới ngủ yên được, bạn nên thử cho trẻ một bình chỉ chứa nước lọc.
    4. Cho trẻ uống nước sau mỗi bữa ăn
    Chỉ cần một ít nước sau mỗi bữa ăn cũng có thể rửa sạch răng cho bé, loại bỏ những thức ăn thừa trong miệng.
    5. Đảm bảo cung cấp đủ flour cho trẻ
    Ngoài việc sử dụng kem đánh răng có flour, trẻ nên được cung cấp flour thông qua cả nước uống. Flour vô cùng quan trọng trong việc phòng chống sâu răng và thường được thêm vào thành phần của các loại nước uống vì lý do này.
    6. Đưa trẻ tới nha sĩ
    Nhiều cha mẹ đánh đồng lần đi tới nha sĩ đầu tiên là khi đưa trẻ tới nhổ răng. Nên đưa trẻ tới nha sĩ khi bé được khoảng 3 tuổi, trừ khi trước đó cháu bị đau răng hoặc có các vấn đề về răng miệng cần đến gặp nha sĩ. Thậm chí chuyến đi đó chỉ là để trẻ ngồi trên ghế, há miệng to và được khen ngợi về việc đã làm tốt như thế nào trong việc tự chăm sóc răng miệng của mình.

    Những Nguyên Nhân Làm Trẻ Biếng Ăn

    1. Bệnh:
    Biếng ăn do bệnh lý Suy dinh dưỡng; nhiễm ký sinh trùng; nhiễm trùng (viêm mũi, viêm họng, viêm amiđan...); nhiễm siêu vi; bệnh lý răng miệng (sâu răng, viêm nướu); loạn khuẩn đường ruột,...
    Biếng ăn sinh lý. Trẻ vẫn khỏe mạnh nhưng tự nhiên ăn ít đi trong vài ngày đến vài tuần. Các thời điểm này thường trùng với những lúc bé biết lật, ngồi, đứng, đi... Sau đó trẻ ăn uống lại bình thường.

    2. Do sai lầm của cha mẹ: chế độ ăn sai

    Biếng ăn do sai lầm trong chế biến thức ăn và thời gian chuyển tiếp chế độ ăn. Sai lầm trong chế biến thức ăn cho trẻ: Hầm khoai tây, cà rốt, củ dền, đậu, thịt... xay nhuyễn và cho bé ăn hết ngày này qua tháng nọ gây cảm giác ngán; chỉ cho trẻ ăn nước rau, nước thịt, không ăn xác; lâu ngày dẫn đến thiếu các chất dinh dưỡng; cho trẻ ăn thức ăn xay nhuyễn kéo dài đến 2, 3 tuổi; pha bột vào sữa, pha sữa đặc (so với hướng dẫn), pha sữa bằng nước cháo hoặc nước hầm đậu, hầm xương... đều làm trẻ khó tiêu hóa; pha bột quá đặc khi trẻ mới tập ăn dặm. Thời gian chuyển tiếp chế độ ăn không phù hợp: Ăn dặm quá sớm, trước khi trẻ tròn 4 tháng; ăn cơm quá sớm, trong khi răng trẻ chưa đủ để nhai cơm.
    - Ăn dặm sai: sớm, đặc quá, loãng quá, nhiều quá, thành phần 4 chất sai, ăn cơm sớm quá
    - Thấy bé thích ăn món gì thì cho ăn quá nhiều
    - Phụ huynh cần tìm hiều giai đoạn nào bé ăn được gì


    3.Ham chơi: ham chơi quên đói
    - Coi lại không gian khi bé ăn
    - Thường gặp khi chuyển mẹ chăm sang tự ăn
    - Ăn đúng giờ, không uống nước có ga giữa bữa ăn, dứt khoát, đừng kéo dài bữa ăn quá 30 phút


    4. Do yếu tố tâm lý:

    - Thay người chăm sóc, người ngoài chăm ăn
    - Phụ huynh đánh vật, ép quá
    - Phụ huynh stress con stress bò ăn luôn
    - Bình tĩnh chăm - không bàn chuyện khó khăn ăn uống trước mặt bé


    5. Sợ:
    - Ép uống thuốc, ép hút mũi sau đó thấy đưa gì vô mặt là hoảng
    - Sợ các dụng cụ cho bé ăn - đổi loại có màu sắc và hình dạng làm bé thích hơn
    - Có thể bé không chịu không gian, mùi nhựa, mùi vải, mùi thức ăn khi cho bé ăn
    - Không chịu mở miệng khi thấy thức ăn thấy bìnhthấy chén: chờ lúc hơi ngủ gà nữa ngủ nữa thức tập ăn, bú thì trẻ bớt sợ và tập lại từ từ.


    6.
    Biếng ăn do thuốc. 

    Kháng sinh làm rối loạn hệ vi khuẩn đường ruột; dùng quá nhiều vitamin; dùng “thuốc kích thích ăn’’ (tình trạng biếng ăn sẽ tăng nhiều ngay sau khi ngưng thuốc. Cũng cần chú ý là thuốc này chống chỉ định ở trẻ dưới 2 tuổi).
    7. Biếng ăn “của cha mẹ”. 
    Do quá lo lắng về tăng trưởng của con, khi thấy con ăn ít hơn các trẻ cùng lứa tuổi thì nghĩ rằng trẻ biếng ăn mặc dù trẻ vẫn tăng cân và tăng chiều cao tốt.
    8. Biếng ăn do một số nguyên nhân khác. Ít gặp như sau chủng ngừa, sau chấn thương (té ngã...).
    9. Biếng ăn bẩm sinh.
     Có khoảng dưới 5% trẻ sinh ra chỉ ngủ, chơi không bao giờ đòi bú.

    Hướng khắc phục

    - Biếng ăn tâm lý. Cha mẹ cần hết sức bình tĩnh và kiên nhẫn tìm hiểu vì sao trẻ không chịu ăn. Cần tránh các hành vi ép buộc như đè bé ra đổ thức ăn, bóp mũi cho bé nuốt, đánh cho bé khóc để bé nuốt... Khi trẻ bệnh, nếu trẻ khó uống thuốc, cha mẹ hãy trình bày với bác sĩ để bác sĩ cho thuốc dễ uống, không cần phải cho thuốc vào thức ăn để đánh lừa trẻ. Hãy cho trẻ ăn một cách thoải mái, bột, sữa có thể dây vào áo một chút cũng không sao.
    - Biếng ăn do sai lầm trong kỹ thuật chế biến thức ăn và thời gian chuyển tiếp chế độ ăn. Tránh kéo dài thời gian cho trẻ ăn thức ăn xay nhuyễn; tránh cho bé ăn thức ăn đơn điệu, nên đổi món thường xuyên cho bé.
    - Biếng ăn do bệnh. Bổ sung các vi chất dinh dưỡng mà trẻ thiếu; xổ giun định kỳ cho trẻ mỗi 6 tháng; giữ gìn vệ sinh răng miệng; điều trị bệnh nhiễm trùng.
    - Biếng ăn sinh lý Trong giai đoạn biếng ăn sinh lý, các bậc cha mẹ không nên nóng lòng tự ý sử dụng các loại thuốc bổ hoặc thúc ép trẻ ăn. Hãy kiên nhẫn cho trẻ ăn từng bữa nhỏ, thay đổi các món ăn lạ... chờ trẻ ăn trở lại.
    - Biếng ăn do thuốc. Sử dụng các men vi sinh cấy lại vi khuẩn đường ruột hoặc cho trẻ ăn sữa chua; tránh sử dụng thuốc bổ khi không có toa của bác sĩ; tránh sử dụng thuốc kích thích ăn.
    - Biếng ăn bẩm sinh. Đối với các trẻ không đòi ăn bao giờ, cha mẹ phải chủ động cho trẻ ăn theo sự hướng dẫn và theo dõi của bác sĩ dinh dưỡng.